Theo thống kê hiện nay, tỷ lệ số người bị nhồi máu não và thiếu máu não cục bộ càng tăng cao. Nguyên nhân chủ yếu là do xơ vữa động mạch hẹp, tắc các mạch máu nuôi não. Dưới đây là một số yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng gây nhồi máu não.

Tăng huyết áp mạn tinh làm tăng nguy cơ bị nhồi máu não
Nhồi máu não và chỉ số huyết áp
- Tăng huyết áp mạn tính: làm tăng sinh tế bào cơ trơn, dày lớp áo giữa động mạch, làm hẹp lòng động mạch, giảm khả năng tạo tuần hoàn bên tạo tiền đề cho sự thiếu máu ở đoạn động mạch ngoại vi ổ tắc. Ngoài ra, tăng huyết áp còn có tác dụng thúc đẩy quá trình vữa xơ động mạch.
- Huyết áp giảm: khi đó vùng giáp ranh giữa các vùng phân bố máu của các động mạch lớn không được tưới máu đầy đủ và gây nên nhồi máu giao thuỷ (watershed infarction).
Nhồi máu não và vữa xơ động mạch
- Biểu hiện sớm nhất của vữa xơ động mạch là vết mỡ (fatty streaks).
- Những mảng vữa xơ (atherosclerotic plaque) thường xuất hiện vào thập kỷ thứ ba hoặc thứ tư của cuộc đời.
- Các mảng vữa xơ làm tiền đề cho quá trình kết tập tiểu cầu, hồng cầu tạo tơ huyết và tạo huyết khối. Mảng vữa xơ có thể bền vững cũng có thể bị sùi loét.
Nhồi máu não và các bệnh lý tim
- Rung nhĩ.
- Tổn thương thất trái: nhồi máu cơ tim, dị dạng mạch và đờ thành thất (sau nhồi máu cơ tim), bệnh cơ tim thể giãn, huyết khối.
- Tổn thương nhĩ trái: u nhầy, huyết khối, dòng chảy xoáy…
- Tổn thương van tim: bệnh van tim bẩm sinh, hẹp lá do thấp, sa van 2 lá, viêm nội tâm mạc…
- Các quá trình can thiệp: thông tim, phẫu thuật bắc cầu vành, ghép tim…
Các bệnh lý mạch máu
- Co thắt mạch não (vasoconstriction).
- Các quá trình viêm mạch.
Nhồi máu não và các nguyên nhân khác
Bệnh hồng cầu lưỡi liềm, đông máu rải rác lòng mạch, bệnh bạch cầu, tăng độ nhớt của máu, khối phát triển nội sọ, ngộ độc CO, nhiễm độc chì mạn tính, bệnh Moyamoya, sinh đẻ, vết thương giập nát lớn…




Nhận bản tin từ 3tpharma