Các phương pháp chẩn đoán cơn đau thắt ngực – CÔNG TY CỔ PHẦN Y DƯỢC 3T

DANH MỤC

Các phương pháp chẩn đoán cơn đau thắt ngực

Chuyên gia tư vấn bệnh lý Lương y: Ngô Trí Tuệ
Lương y vì sức khỏe nhân dân
GĐ Nhà thuốc Đức Thịnh Đường

Cơn đau thắt ngực thường là dấu hiệu cảnh báo sự hiện diện của bệnh mạch vành với mức độ đáng kể. Những bệnh nhân bị cơn đau thắt ngực cũng có nguy cơ bị nhồi máu cơ tim. Nhồi máu cơ tim là tình trạng cơ tim bị chết do mạch vành bị tắc nghẽn hoàn toàn do cục máu đông.

Khi bị đau thắt ngực, tình trạng thiếu oxy của cơ tim là tạm thời và có thể hồi phục được. Tình trạng thiếu oxy của cơ tim phục hồi và cơn đau ngực biến mất khi bệnh nhân nghỉ ngơi. Ngước lại, những tổn thương của cơ trong nhồi máu cơ tim là vĩnh viễn. Cơ chết đi hóa thành mô sẹo khi lành lại. Tim bị sẹo sẽ không thể bơm máu một cách hiệu quả như một quả tim bình thường được và có thể dẫn đến suy tim.

Trên 25% bệnh nhân bị bệnh mạch vành với mức độ đáng kể không có triệu chứng gì cả, ngay cả khi rõ ràng họ thiếu máu và oxy nuôi cơ tim. Những bệnh nhân này bị cơn đau thắt ngực “im lặng”. Họ cũng có cùng nguy cơ bị nhồi máu cơ tim với những người bị các triệu chứng đau thắt ngực khác.

Cơn đau thắt ngực được chẩn đoán như thế nào?

Điện tâm đồ (ECG, EKG) là bản kết quả hoạt động điện học của cơ tim và có thể phát hiện ra những cơ tim đang cần oxy. Điện tâm đồ có giá trị trong việc thể hiện những thay đổi của cơ tim do thiếu oxy gây ra hoặc cơn nhồi máu cơ tim.

Nghiệm pháp gắng sức

Ở những bệnh nhân có điện tâm đồ được đo lúc ở trạng thái nghỉ ngơi bình thường thì việc đo điện tâm đồ khi đang vận động hoặc đang đạp xe đạp có thể là cách tầm soát hữu ích đối với bệnh mạch vành. Khi thực hiện nghiệm pháp gắng sức (còn được gọi là điện tâm đồ gắng sức), ECG sẽ được đo liên tục trong khi bệnh nhân đang đi trên máy tập chạy bộ hoặc đạp xe đạp tại chỗ và gia tăng độ khó của bài tập dần dần. Sự xuất hiện của cơn đau ngực trong khi gắng sức có thể tương ứng với những thay đổi trên ECG thể hiện sự thiếu oxy của cơ tim. Khi bệnh nhân nghỉ ngơi thì cơn đau thắt ngực cũng như những thay đổi trên ECG thể hiện sự thiếu oxy của cơ tim cùng biến mất. Tính chính xác của điện tâm đồ gắng sức trong chẩn đoán bệnh lý mạch vành ở vào khoảng 60% đến 70%. Nếu điện tâm đồ gắng sức không cho thấy dấu hiệu của bệnh mạch vành, có thể cho thallium theo đường tĩnh mạch trong lúc thực hiện nghiệm pháp  gắng sức. Sự thêm vào của thallium này cho phép ghi hình hạt nhân dòng máu đến những vùng khác nhau của cơ tim bằng một camera gắn ngoài. Sự giảm lưu lượng máu đến một khu vực nào đó của tim trong khi luyện tập và bình thường khi nghỉ ngơi cho biết có một đoạn mạch vành hẹp đáng kể ở vùng tương ứng của tim.

Siêu âm tim gắng sức

Là phương pháp phối hợp siêu âm tim với nghiệm pháp gắng sức. Cũng giống như nghiệm pháp thallium gắng sức, siêu âm tim gắng sức chính xác hơn điện tâm đồ gắng sức trong việc phát hiện ra bệnh mạch vành. Khi động mạch vành hẹp đáng kể, vùng cơ tim được động mạch này cung cấp máu sẽ không co bóp tốt như phần còn lại của cơ tim trong khi gắng sức. Sự bất thường trong hoạt động co bóp của cơ tim có thể được phát hiện bằng siêu âm tim. Siêu âm tim gắng sức và thallium gắng sức đều có độ chính xác vào khoảng 80% đến 85% trong việc phát hiện bệnh mạch vành ở độ nặng tương đối.

Khi bệnh nhân không thể thực hiện nghiệm pháp gắng sức do những vấn đề thần kinh hoặc cơ xương khớp, các bác sĩ có thể tiêm thuốc vào tĩnh mạch để tạo ra một tình trạng stress cho tim tương tự như khi bệnh nhân đang gắng sức. Khi đó hình ảnh của tim có thể được ghi nhận lại bằng camera hạt nhân hoặc bằng siêu âm tim.

Thông tim

Thông tim cùng với chụp mạch máu (chụp mạch vành) là một kỹ thuật cho phép chụp lại hình ảnh X quang của các động mạch vành. Nó là loại khảo sát phát hiện ra hẹp động mạch vành một cách chính xác nhất. Các ống nhựa rỗng nhỏ (catheter) được luồn vào các lỗ mở của các động mạch vành dưới sự hướng dẫn của X quang. Thuốc nhuộm cản quang Iod sẽ được tiêm vào các động mạch này khi hình ảnh x quang đang được ghi nhận lại. Thủ thuật chụp mạch vành cho phép bác sĩ có được hình ảnh về vị trí và độ nặng của bệnh động mạch vành. Thông tin này có thể quan trọng trong việc giúp bác sĩ lựa chọn được những phương pháp điều trị thích hợp.

Chụp mạch vành qua CT

Là thủ thuật tiêm thuốc nhuộm có chứa iod vào tĩnh mạch rồi sau đó chụp CT để ghi nhận lại hình ảnh của các động mạch vành. Tuy không phải dùng đến các catheter (do đó nó được gọi là một thủ thuật “không xâm lấn”) nhưng nó vẫn ẩn chứa một số nguy cơ, bao gồm:

  • Bệnh nhân có thể bị dị ứng với iod.
  • Bệnh nhân có chức năng thận bất thường
  • Tiếp xúc với phóng xạ với mức độ tương đương hoặc nhiều hơn so với chụp mạch vành quy ước.

Tuy nhiên, đây vẫn thường là một khảo sát an toàn cho hầu hết mọi người. Nó là công cụ quan trọng để chẩn đoán bệnh mạch vành ở những bệnh nhân:

  • Có nguy cơ bị bệnh mạch vành cao (những người hút thuốc lá, những người có nguy cơ di truyền, có nồng độ cholesterol máu cao, tăng huyết áp, hoặc đái tháo đường).
  • Những người thực hiện nghiệm pháp gắng sức hoặc những nghiệm pháp khác cho kết quả nghi ngờ, hoặc
  • Những người có các triệu chứng gây nghi ngờ đến bệnh mạch vành.

Theo Y khoa – net

Chia sẻ

    Đăng ký tư vấn

    Đăng ký tư vấn

    Có thể bạn quan tâm

    No comments yet.

    Please Post Your Comments & Reviews

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

    Optionally add an image (JPEG only)

    LIÊN HỆ

    HOTLINE: 1900 63 64 55
    EMAIL: cskh@3tpharma.com.vn
    WEBSITE: 3tpharma.com.vn

    © 2022 Bản quyền thuộc về 3T Pharma

      Thông tin đơn hàng:

      Sản Phẩm

      Số Lượng

      Loại
      125ml200mlhộp

      Thông tin khách hàng: